[BrandED#2] 4 đặc tính – 7 thách thức và giải pháp gợi ý cho Marketing trường học

[Update – Sổ tay Marketing – Tuyển sinh trường học K-12] Bản xem trước 40 trang + Danh mục kho tài liệu + Link đặt trước tại đây
‼️Sổ tay chỉ in theo số lượng đặt, chuyển giao MỘT LẦN DUY NHẤT trong tháng 7/2024.

Xin chào các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp đang quan tâm tới lĩnh vực Marketing trường học (K-12),

Mình không dám nhận là chuyên gia Marketing trường học, song mình muốn chia sẻ các quan điểm về chủ đề này bởi các lý do sau đây:
– Mình thực sự yêu thích công việc này;
– Mình có trải nghiệm thực tế về góc nhìn ở các vai trò khác nhau: thiết kế mô hình các sản phẩm giáo dục trường học (chính khoá & ngoại khoá), vận hành, triển khai, tuyển sinh, và khách hàng (mình là một Phụ huynh đã có con đi học Mầm non).
– Mình luôn tin rằng nếu có một nền tảng kiến thức khoa học tốt, việc ứng dụng trong thực tế sẽ logic hơn, thuận lợi hơn và mức độ khả thi cao hơn. Cùng với đó, khi triển khai thực tế cũng cần đối chiếu lại với lý thuyết để tìm ra công thức thành công chứ không chỉ là những tình huống được giải quyết mơ hồ.
– Mình luôn sẵn sàng học hỏi và mong muốn biến “kiến thức của người khác” thành “tài sản” của chính mình.
– Nếu có thể (và may mắn), những chia sẻ của mình có thể giúp một ngôi trường nào đó tốt hơn dù chỉ 0.1% thì sao?
Trong quá trình tự nghiên cứu, học hỏi và chia sẻ lại kiến thức, mình rất xin lỗi nếu những góc nhìn cá nhân cuả mình còn thiếu sót và chưa thực sự phù hợp. Mình cũng rất mong nhận được những chia sẻ của thầy cô và đồng nghiệp về những chủ đề liên quan.

Tiếp nối bài mở đầu “Marketing trong trường học nhất định không được dễ dãi”, chuỗi bài viết về câu chuyện làm “marketing trong trường học” sẽ chia sẻ về tổng quan ngành nghề, các mô hình, công cụ, marketing mix 7P,… mà người làm marketer trong trường học nên biết. Đây là hệ thống kiến thức được mình đúc kết và mở rộng từ những nền tảng sau:

(1) Khoá học “Service Marketing from A to Z: Xây dựng chiến lược Marketing Dịch vụ” của BrandcampVN
Các khoá học ở Brandcamp rất chất lượng và uy tín, hệ thống nội dung mạch lạc và giảng viên đều là các chuyên gia đầu ngành. Tuy nhiên, kiến thức và case study trong các khoá học thường được áp dụng cho các doanh nghiệp tập đoàn quy mô lớn nên có thể không dễ hiểu và khó áp dụng ngay trong trường học – nơi thường sử dụng các chiến lược dành cho doanh nghiệp SMe.

(2) Cuốn giáo trình về Marketing dịch vụ của Nhà xuất bản Pearson dành cho sinh viên Đại học “Essentials of Service Marketing

(3) Diễn giải, liên hệ giữa lý thuyết ứng dụng trong toàn ngành dịch vụ và trong trường học (*)

Dựa trên quan điểm và kinh nghiệm thực tế của cá nhân.

(4) Những tài liệu khác sẽ được bổ sung trong quá trình nghiên cứu.


Để hiểu bản chất và xây dựng những chiến lược marketing phù hợp cho trường học, chúng ta cần xem xét sản phẩm của mình trong tổng thể của lĩnh vực kinh doanh “dịch vụ”.

Vậy dịch vụ là gì? Giáo dục trường học thuộc phân loại dịch vụ nào?

“Dịch vụ là một hoạt động kinh tế được cung cấp bởi một bên cho một bên khác. Các hoạt động diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định và mang đến kết quả kỳ vọng cho người tiếp nhận dịch vụ hoặc những đồ vật/tài sản khác của người sử dụng dịch vụ.
Khi sử dụng dịch vụ, khách hàng sẽ bỏ ra thời gian, tiền bạc, nỗ lực và công sức; đổi lại kỳ vọng nhận được giá trị từ việc tiếp cận nguồn nhân lực, kỹ năng chuyên môn, hàng hoá, cơ sở vật chất, phương tiện, hệ thống thông tin của bên cung cấp.
Người mua và khách hàng không có quyền sở hữu các yếu tố vật chất liên quan trong quá trình sử dụng dịch vụ.”

– Essentials of Service Marketing –

Đối chiếu với định nghĩa trên, chúng ta có thể nhận thấy:

  • Giáo dục trường học là một hoạt động được cung cấp bởi Nhà trường cho học sinh thường được chi trả bởi Phụ huynh/người giám hộ.
  • Hoạt động dạy và chăm sóc được diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định là 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều (có thể sớm hoặc muộn hơn), kéo dài trong 4-5 năm (Mầm non), 5 năm (Tiểu học), 4 năm (THCS), 3 năm (THPT) và mang đến kết quả kỳ vọng là học sinh đạt được mục tiêu đầu ra theo độ tuổi/cấp học dựa trên Khung chương trình đào tạo của Quốc gia/hoặc một chương trình đã được thẩm định và các mục tiêu giáo dục do Nhà trường xây dựng, cam kết.
  • Khi con học tại trường, Phụ huynh/người giám hộ và con sẽ bỏ thời gian, tiền bạc, nỗ lực và công sức; đổi lại kỳ vọng nhận được giá trị từ việc truyền tải kiến thức của thầy cô giáo có chuyên môn,  kỹ năng chăm sóc bán trú,cảnh quan, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy-học, bữa ăn, xe buýt, hệ thống công nghệ thông tin, đồng phục …của Nhà trường. 
  • Phụ huynh và học sinh không có quyền sở hữu các yếu tố vật chất bao gồm: đất, toà nhà, bàn ghế, trang thiết bị, đồ dùng, giáo viên,…trong quá trình đi học tại trường.

Như vậy, giáo dục là một ngành dịch vụ, có các yếu tố đặc trưng của ngành dịch vụ và được xây dựng các chiến lược tiếp cận khách hàng theo “công thức” của ngành.

Dựa trên bản chất của đối tượng hữu hình hoặc vô hình và đối tượng tác động là con người hay tài sản, dịch vụ được chia thành 4 nhóm:

Handbook “Thấu hiểu nền tảng Marketing trường học” – Linh Chi Hoàng

Trường học thuộc phân loại nhóm “Dịch vụ tác động đến trí não và tinh thần”, một phần thuộc phân loại nhóm “Dịch vụ tác động đến cơ thể con người” do bao gồm hoạt động chăm sóc và nuôi dưỡng (loại hình bán trú/nội trú)


4 đặc tính của ngành dịch vụ

Người làm Marketer trong trường học và lĩnh vực dịch vụ nói chung cần nắm được 4 đặc tính dưới đây. Bởi đây là những yếu tố sẽ ảnh hưởng tới hoạt động Marketing và cả hoạt động kinh doanh tổng thể của cả doanh nghiệp. 

Đặc tính 1: Tính vô hình

Tính vô hình của dịch vụ bao gồm vô hình vật lý (hầu hết các dịch vụ đều không cảm nhận được bằng trực quan – giác quan thông thường như nhìn – nắm – ngửi – nếm,..) và vô hình tinh thần (phần lớn khách hàng chỉ có thể cảm nhận và nhìn thấy kết quả cuối cùng của quá trình cung ứng dịch vụ chứ không thể biết hay tưởng tượng trước khi thực sự trải nghiệm sản phẩm.)

Khi chọn trường cho con, dù Phụ huynh có biết về danh tiếng của trường, nắm rõ thông tin về chương trình học, thậm chí đã từng cho con đầu theo học tại trường thì Phụ huynh cũng không thể biết trước được sau 5 năm học tại trường, con sẽ có kết quả như thế nào, có học tốt Toán hay không, nói Tiếng Anh có trôi chảy hay không,… Kết quả chất lượng của trường chỉ có thể xác định khi con tham gia các kỳ thi chuyển cấp hoặc đơn giản thoả mãn kỳ vọng của Phụ huynh. Chính vì vậy, việc đánh giá chất lượng của dịch vụ sẽ nặng tính chủ quan hơn khách quan. 

Đặc tính 2: Tính không đồng đều về chất lượng

Khác với các sản phẩm hữu hình (cùng một nguyên liệu, công thức, quy trình sản xuất, kiểm tra..), việc đảm bảo chất lượng dịch vụ không dễ dàng. Nguyên nhân tạo nên tính không đồng đều về chất lượng trong dịch vụ là:

  • Từ phía đơn vị cung cấp: cùng một nguyên liệu nhưng quá trình tạo ra sản phẩm đầu ra khác nhau
    Trong trường học, trường hợp này khá phổ biến. Cùng một chương trình giáo dục với các điều kiện trang bị như nhau nhưng mỗi giáo viên lại có phương pháp và phong cách dạy học khác nhau, dẫn đến kết quả trên trẻ khác nhau. 
  • Cảm nhận về chất lượng phụ thuộc rất nhiều vào đánh giá cá nhân của khách hàng.
    Vẫn cùng một chương trình học, trong cùng một lớp học và cùng một giáo viên giảng dạy, những mỗi Phụ huynh lại có cảm nhận khác nhau về chất lượng, đôi khi là trái ngược nhau. Điều này liên quan đến yếu tố chủ quan: kỳ vọng, phong cách, thậm chí là tâm trạng của Phụ huynh tại thời điểm đánh giá.
  • Yếu tố khách quan: không gian, thời gian, hình thức trao đổi dịch vụ
    Khi con theo học tại trường, Phụ huynh rất hài lòng về chất lượng giảng dạy. Tuy nhiên khi dịch Covid diễn ra, hình thức dạy học thay đổi, học sinh lớp 1 phải học trực tuyến buổi tối (thay vì ban ngày học trực tiếp), dẫn đến đánh giá về chất lượng của Phụ huynh thay đổi.

Như vậy, đánh giá chất lượng dịch vụ chỉ mang tính tương đối.

Đặc tính 3: Tính không thể tách rời giữa cung cấp và tiêu thụ

Khi một nhãn hiệu thời trang sản xuất quần áo hàng loạt, các cửa hàng có thể bán từ tháng này sang tháng khác, thậm chí có thể chuyển tới outlet để bán giá rẻ trong trường hợp tồn kho. Tuy nhiên đối với các sản phẩm dịch vụ, thời điểm “sản xuất” dịch vụ gần như đồng thời với thời điểm khách hàng sử dụng dịch vụ.

Trong trường học, khi giáo viên dạy học cũng chính là lúc học sinh tiếp nhận tri nhận. 

Đặc tính 4: Tính không tồn trữ được

Dịch vụ chỉ tồn tại ở thời gian cung cấp, không thể “tồn kho” hay sản xuất hàng loạt và bán khi thị trường có nhu cầu.

Cũng như chiến dịch tuyển sinh, thời điểm bắt đầu năm học mới là tháng 9. Dù trường có tuyển đủ số lượng học sinh mong muốn hay thậm chí chưa đạt điểm hoà vốn vận hành thì vẫn phải khai giảng và bắt đầu cung cấp dịch vụ.


7 thách thức trong hoạt động Marketing trường học và giải pháp gợi ý

4 đặc tính của nêu trên sẽ tạo ra những sự khác biệt đặc thù giữa ngành dịch vụ và các ngành khác – dẫn đến những thách thức mà Marketer dịch vụ cần phải đối mặt. Ở phần này, mình sẽ liên hệ một số giải pháp dành cho trường học và ví dụ tham khảo từ các trường tư thục

Bảng tổng hợp 7 sự khác biệt thường thấy có tác động tới marketing ngành dịch vụ và giải pháp gợi ý cho trường học các bạn có thể xem tại link này. Do giao diện của blog giới hạn nên để đọc rõ chữ, mình sẽ viết riêng từng phần.

Đặc tính 1: Tính vô hình

Sự khác biệtDiễn giảiThách thức cho marketing
Các yếu tố vô hình có vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị (VD: trình độ nhân viên, thái độ, môi trường, quy trình,…)– Khách hàng không thể nếm, ngửi hay chạm vào các yếu tố này và đôi khi cũng không thể nhìn hay nghe thấy.
– Việc đánh giá dịch vụ hay phân biệt với các đối thụ cạnh tranh hó khăn hơn
– Hữu hình hoá các yếu tố vô hình bằng cách tập trung vào các khía cạnh vật lý
– Sử dụng ẩn dụ cụ thể và hình ảnh sinh động trong quảng cáo và nhận diện thương hiệu
Thách thức 1

Giải pháp gợi ý cho trường học:

  • Xây dựng bộ nhận diện chuyên nghiệp mang đặc trưng của tính cách thương hiệu theo đúng định vị như thân thiện, cao cấp, học thuật, khai phóng,..
  • Tạo môi trường tương ứng với định vị bao gồm: nhìn (CSVC, không gian, cách bài trí,..), nghe (ngôn ngữ, tông giọng, văn phong,..), ngửi (không có mùi ẩm mốc, tinh dầu,..), sờ (chất liệu đồng phục, đồ chơi, đồ dùng,..)
  • Sử dụng hình ảnh học sinh đang hoạt động tại trường, cơ sở vật chất thực tế. Có thể lựa chọn một nhân vật biểu tượng (mascot) để “minh hoạ” chân dung đầu ra của người học (VD: sư tử – nhà lãnh đạo mạnh mẽ, chim bồ câu – công dân vì cộng đồng, xã hội,..)
  • Mô hình hoá các thông tin thay vì liệt kê (VD: quy trình tuyển sinh 5 bước theo sơ đồ mũi tên; chương trình giáo dục theo hình tượng cây táo rễ-thân- cành; tỉ trọng các môn học theo biểu đồ tròn, bảng so sánh theo dạng tích các tiêu chí khi so sánh các Hệ đào tạo…)

Tham khảo: Showcase tái định vị thương hiệu Olympia School (Hà Nội))
Mô hình cây giáo dục của Alpha School (Hà Nội);
Lộ trình học tập từ Mầm non đến Trung học theo biểu tượng xoắn ốc (google)

Sự khác biệtDiễn giảiThách thức cho marketing
Khó hình dung, hiểu và đánh giá chất lượng dịch vụ trước khi sử dụngKhách hàng cảm thấy rủi ro và không chắc chắnCung cấp thông tin và thuyết phục khách hàng để có lựa chọn tốt, giải thích mục tiêu, có tài liệu trình bày, đưa ra các cam kết, bảo đảm.
Thách thức 2

Giải pháp gợi ý cho trường học:

  • “Giáo dục” khách hàng về sản phẩm (quan điểm giáo dục, chương trình học, phương pháp,..) thông qua các hình thức: hội thảo, bài truyền thông trên nền tảng số, newsletter, hội nhóm cộng đồng, sách, khoá học đào tạo cha mẹ, blog cá nhân của đội ngũ…
  • Luôn luôn có tài liệu để Phụ huynh “nhìn”, “chạm” bao gồm: profile giới thiệu trường, biểu phí (có thể kèm bảng dự kiến tài chính trong suốt thời gian học thiết kế riêng cho từng khách hàng), slide thuyết trình,..
  • Luôn có mục tiêu đầu ra được lượng hoá ở các lĩnh vực PHHS quan tâm (VD cấp Mầm non: trẻ 5 tuổi đạt được trình độ Tiếng Anh Pre-A1, có thể đếm đến 100 và cộng trong phạm vi 20, có thể nhận biết mặt chữ cái, ghép vần,…) được thiết kế logic, ngôn ngữ ngắn gọn và dễ hiểu

Tham khảo: Tài liệu Giới thiệu chương trình Babycare – Mầm non Happytime (Hà Nội) – trường của em bé Chương (con mình) theo học; mình giữ chỗ nhập học ngay 45 phút sau khi xem tài liệu, dù chưa từng biết đến trường trước đó và cũng chưa từng đến trường tham quan, hay nghe tư vấn. Sức mạnh kỳ diệu của một tài liệu giúp Phụ huynh hình dung ra mọi thứ phải không ạ?
Tài liệu Giới thiệu trường Mầm non Mai Thế Hệ (Ninh Bình); tham khảo mục tiêu đầu ra trang 7,8

Các lĩnh vực phát triển và kết quả đầu ra – Mầm non BRIS (HCMC)
Nội san BMSer Connection: Lòng tốt & Sự dũng cảm – Hệ thống Giáo dục Ban Mai (Hà Nội). Mình rất thích hình thức nội san vừa có bản e-magazine vừa có bản in phát cho học sinh, hình thức tổ chức như Toà soạn báo Thiếu niên tiền phong vậy.

Đặc tính 2: Tính không đồng đều về chất lượng

Sự khác biệtDiễn giảiThách thức cho marketing



Các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra có chất lượng không đồng đều
– Khó khăn trong việc duy trì tính nhất quán, độ tin cậy và chất lượng dịch vụ
– Ít cơ hội giảm chi phí bằng việc tăng năng suất/công suất
– Khi chất lượng dịch vụ không như mong đợi, cơ hội “sửa sai” thấp

– Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn dựa trên kỳ vọng khách hàng, thiết kế lại các yếu tố của sản phẩm hướng tới sự tối ưu và tránh rủi ro.
– Thiết lập quy trình “hồi phục” dịch vụ tốt.
Thách thức 3

Giải pháp gợi ý cho trường học:

  • Sản phẩm giáo dục không nhất thiết được xây dựng dựa trên/chạy theo “thị hiếu” của Phụ huynh, song hệ thống đánh giá tiêu chuẩn chất lượng nên tham khảo mức độ kỳ vọng của khách hàng bằng các hình thức khảo sát, phỏng vấn, hòm thư, hotline,…
  • Tinh chỉnh hệ thống quy trình tối ưu về các nguồn lực; lựa chọn triển khai các hoạt động trong trường học tránh mức độ rủi ro cao (VD: nguồn cung cấp thực phẩm uy tín, thiết bị điện trong lớp học được bố trí an toàn, nội quy đón trẻ về giữa giờ,…)
  • Luôn luôn lập kế hoạch dự phòng (plan B) và quy trình giải quyết cho những trường hợp không mong muốn như sự vụ liên quan đến nhân sự/học sinh để nhanh chóng giải quyết vấn đề, giữ uy tín và niềm tin với Phụ huynh.

Đặc tính 3: Tính không thể tách rời giữa cung cấp và tiêu thụ

Sự khác biệtDiễn giảiThách thức cho marketing



Khách hàng tham gia vào quá trình cung cấp sản phẩm

– Khách hàng có sự tương tác với cơ sở vật chất, trang thiết bị và hệ thống của nhà cung cấp
– Sự phối hợp của khách hàng có thể ảnh hưởng đến năng suất, chất tượng và trải nghiệm của dịch vụ
– Xây dựng hệ thống, có sở vật chất, trang thiết bị thân thiện với người sử dụng
– Đào tạo, hướng dẫn khách hàng thực hiện hiệu quả, cung cấp các giải pháp hỗ trợ
Thách thức 4

Giải pháp gợi ý cho trường học:

  • Yếu tố này thể hiện rất rõ ràng trong trường học – nơi cần sự phối hợp chủ đạo của học sinh để tạo nên chất lượng cuối cùng. Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, hệ thống chương trình học,..đều được xây dựng để phù hợp với sự phát triển tâm-sinh lý, trí tuệ của trẻ.
  • Thiết kế các chương trình bổ trợ, phụ đạo trong trường hợp học sinh không theo kịp tiến độ.
  • Đào tạo, hướng dẫn và có các hình thức hỗ trợ cha mẹ đồng hành cùng con thông qua: Sổ dặn dò, app sổ liên lạc điện tử, tin nhắn, điện thoại,..
Sự khác biệtDiễn giảiThách thức cho marketing
Con người là một thành phần trong trải nghiệm dịch vụHình thức, thái độ và cách ứng xử của đội ngũ và các khách hàng khác có thể tạo nên trải nghiệm và tác động đến mức độ hài lòng của khách hàng– Tuyển dụng, đào tạo và có cơ chế khen thưởng nhân viên để chất lượng dịch vụ theo tiêu chuẩn đã được xây dựng.
– Tiếp cận đúng tệp khách hàng vào đúng thời điểm, thiết lập hành vi của họ
Thách thức 5

Giải pháp gợi ý cho trường học:

  • Xây dựng hệ thống quản trị nhân sự tối ưu và hiệu quả (sơ đồ tổ chức, mô tả công việc, quy chế phân quyền, thi đua khen thưởng,..).
  • Xác định, thiết lập văn hoá Nhà trường và “sống và làm việc” theo văn hoá đó thông qua các hình thức: làm gương (thành hay bại của văn hoá doanh nghiệp được quyết định bởi lãnh đạo cao nhất), đào tạo nhận thức, thực hành liên tục, đánh giá, giữ nhịp,..
  • Xây dựng chương trình đào tạo nhân sự có hệ thống theo mô hình ASK (Thái độ – Kỹ năng – Kiến thức), trong đó bao gồm các khoá đào tạo về tư duy và kỹ năng làm dịch vụ trong trường học.
  • “Lựa chọn” khách hàng theo những tiêu chí phù hợp nhất với Nhà trường, đừng ngại “từ bỏ” những khách hàng theo đuổi giá trị không phù hợp. Xây dựng các hoạt động gắn kết, hiểu và thương để tạo nên cộng đồng Phụ huynh “như mong đợi”

Tham khảo:Brendon Union Golf , Brendon Family Day– Họat động trong chuỗi kỷ niệm 10 năm thành lập trường Brendon, gắn kết và thể hiện “đăng cấp” của cộng đồng Phụ huynh
Hoạt động đào tạo cán bộ nguồn, quản lý Ngôi sao Hà Nội

Đặc tính 4: Tính không tồn trữ được

Sự khác biệtDiễn giảiThách thức cho marketing
Hầu hết các sản phẩm dịch vụ đều không có sẵn hay tồn trữKhách hàng có thể bị từ chối hoặc phải chờ đợi– Xây dựng phương pháp, công cụ chuyển đổi khách hàng sử dụng dịch vụ ở giai đoạn thấp điểm (tránh tắc nghẽn) 
– Phối hợp với bộ phận vận hành để điều chỉnh công suất
Thách thức 6

Giải pháp gợi ý cho trường học:

  • Xây dựng các chương trình khuyến mãi, học bổng ở các giai đoạn thấp điểm (VD: tháng 6,7,8 của khối Mầm non).
  • Chính sách giữ chỗ
  • Tăng số lượng lớp/sĩ số (lưu ý các cam kết với Phụ huynh cũ); mở thêm cơ sở
Sự khác biệtDiễn giảiThách thức cho marketing
Yếu tố thời gian đóng vai trò quan trọngKhách hàng coi thời gian là nguồn tài nguyên hữu hạn nên cần được sử dụng thông minh, không thích mất thời gian chờ đợi và mong muốn dịch vụ thuận tiện nhấtTìm cách đẩy nhanh quá trình cung cấp dịch vụ, giảm thiểu thời gian chờ, bổ sung các hoạt động trong khi chờ đợi.
Thách thức 7

Giải pháp gợi ý cho trường học:

  • Thiết lập hệ thống quy trình tuyển sinh và chăm sóc (các vấn đề) của Phụ huynh tinh gọn, nhanh chóng, thuận tiện nhất, tránh việc PH phải di chuyển đến trường nhiều lần để giải quyết 1 vấn đề.
  • Thiết kế các hoạt động khác cho Phụ huynh trong khi chờ đợi (tại trường): đọc nội san học sinh, album ảnh, kỷ yếu, đoạn phim trên TV, khu trưng bày sản phẩm học sinh, làm khảo sát, trải nghiệm các ứng dụng học tập,…
  • Tổ chức các hoạt động dành cho khách hàng chờ đợi (do chưa có chỗ trống nhập học, chủ yếu Mầm non): nhóm vui chơi (playgroup) thời lượng ngắn hàng tuần, buổi học thử, workshop,..

Tham khảo: Playgroup hàng tuần trường Mầm non Quốc tế Smarkids (TP. Hồ Chí Minh) – Mình siêu thích trường này luôn, chỉ muốn bế Chương vào Sài Gòn học ^^

Tâm sự

Trên đây là những thông tin tổng quan ban đầu về Marketing dịch vụ, ứng dụng trong trường học theo những chiêm nghiệm cá nhân của mình. Những giải pháp gợi ý chỉ là những hoạt động nhỏ lẻ để giải quyết một số thách thức được nêu tại một điểm chạm trên chặng đường dài của hành trình khách hàng. Vẫn còn rất nhiều khía cạnh Marketer cần quan tâm hay phải đối mặt trong một bức tranh tổng thể hơn.

Trong một podcast của “18 giờ 1 phút” về marketing giáo dục, thầy Nguyễn Hữu Đăng Khoa – Giảng viên Marketing trường ĐH Kinh tế Quốc dân có một chia sẻ mình rất tâm đắc. Đó là việc tạo nên sự khác biệt của các trường tập trung ở sản phẩm cốt lõi (chương trình học) là một cách làm khá cũ và dễ bị copy; thay vào đó các trường nên tạo ra sự độc đáo trong trải nghiệm dịch vụ. Thực tế, mình thấy ý kiến trên hoàn toàn đúng. Chúng ta có thể thấy một ngôi trường tiên phong về chương trình quốc tế Cambridge, phương pháp Montessori hay mời một vị GS.TS nổi tiếng làm cố vấn cho trường, thì không lâu sau một loạt trường cũng dạy Cam, ứng dụng Mon và cũng có cố vấn là chính vị GS.TS đó. Bởi vậy, yếu tố “dịch vụ” càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết và hoạt động marketing (nhấn mạnh thêm một lần nữa) đừng chỉ dừng lại dưới hình ảnh một “cơn sóng” cuộn dâng ở thời điểm tuyển sinh.

Cảm ơn bạn đã ghé thăm và đọc những bài viết còn nhiều thiếu sót của mình! Dù bạn là ai và đang ở dấu mốc nào của cuộc đời, mình xin chúc bạn một chặng đường ghi dấu ấn hạnh phúc và thành công!

Cảm ơn sự quan tâm và hỗ trợ của tất cả mọi người!

ChibeBold là cách mình không lãng quên chính mình, cũng là lời nhắc mỗi ngày để tôi luyện cái “chất của riêng Chi”.
Blog sẽ xoay quanh 4 chủ đề: (1) eROLE – Suy nghĩ về các nhóm “vai” trong giáo dục; (2) BrandED(ucation) – Làm thương hiệu giáo dục; (3) ChibeBOLD – Phát triển bản sắc cá nhân và (4) DailyThoughts – Những suy tư vẩn vơ của mình hàng ngày.

Chi, but bolder (day by day).

Bình luận về bài viết này

Mình là Chi!

Chào mừng bạn đến với góc nhỏ của mình về giáo dục & thương hiệu trường học.